Trạm chuyển tiếp thông minh trong thông tin vô tuyến
-- Cập nhật : 22 thg 7, 2008 --
I. Giới thiệu chung
Dù chưa chính thức được chuẩn hóa nhưng trong chuẩn di động thế hệ 4G, tốc độ truyền dẫn dữ liệu tại giao diện vô tuyến được mong đợi là gấp 10 lần so với tốc độ của hệ thống 3G hiện nay. Để đáp ứng được yêu cầu về tốc độ truyền dẫn cao thì một trong những giải pháp là dùng các chùm tín hiệu điều chế tốc độ cao [6]. Ví dụ các chùm tín hiệu điều chế 16-QAM đã được đề xuất sử dụng trong các tiêu chuẩn 3G ở cả 3GPP và 3GPP2, trong chuẩn di động WiMAX, chùm tín hiệu điều chế 64-QAM cũng được sử dụng với mục đích cung cấp dịch vụ vô tuyến băng rộng. Tuy nhiên, nếu duy trì mức công suất phát ngang bằng với công suất sử dụng ở những chùm tín hiệu mật độ thấp thì khoảng cách cực tiểu giữa hai điểm tín hiệu trên chùm tín hiệu sẽ giảm (Hình 1). Điều đó đồng nghĩa với việc tỷ lệ lỗi ký hiệu sẽ tăng lên hay nói khác đi để đảm bảo chất lượng dịch vụ (BER), các máy phát phải tăng công suất. Việc tăng công suất trong mạng thông tin di động sẽ khó khăn đối với máy đầu cuối vô tuyến vì các máy đầu cuối vô tuyến như: cell phone, PDA sử dụng pin làm nguồn nuôi, công suất phát tăng sẽ rút ngắn thời gian sử dụng pin của những thiết bị này [1].
Mặt khác, các dải tần số như 850, 900, 1800, 1900 MHz hoặc thậm chí dải tần 2 GHz đã được các mạng di động GSM, WCDMA, cdma2000 sử dụng. Do đó, chắc chắn rằng dải tần số phân bố cho 4G sẽ nằm bên trên dải 2 GHz của hệ thống 3G hiện nay [1]. Suy hao truyền dẫn trong điều kiện che chắn ở dải tần này là rất lớn. Đây cũng là một lý do dẫn đến việc tăng công suất phát nếu như vùng phủ sóng vẫn phải được duy trì.
Để giải quyết hai khó khăn trên thông thường người ta dùng giải pháp thu nhỏ kích thước cell và tăng mật độ các trạm thu phát gốc như ở Hình 2(a). Tuy vậy, nhược điểm của giải pháp này là [1]:
- Phải cung cấp thêm các đường truyền dẫn (thường là các luồng E1) từ các trạm BTS mới đến trung tâm điều khiển trạm gốc BSC. Nhưng, trên thực tế không phải lúc nào các luồng truyền dẫn E1 cũng sẵn có đối với tất cả các nhà khai thác mạng di động.
- Cần phải tổ chức lại mạng lưới như: ấn định lại các tần số vô tuyến cho từng trạm thu phát gốc và dịch chuyển các điểm đặt trạm thu phát gốc.
- Cung cấp thêm các tần số vô tuyến vì nhiều trạm thu phát gốc mới đã được đưa vào. Điều này có thể chưa khó khăn đối với một nhà khai thác mạng chưa phát triển. Nhưng, đối với những nhà khai thác mạng đã sử dụng gần hết các tần số cấp phép thì việc thêm tần số vô tuyến mới là rất khó khăn.
- Phải thuê và xây dựng các trạm thu phát mới cũng gây nên những tốn kém nhất định trong việc triển khai hệ thống vì trong một khu vực việc chọn được một địa điểm tối ưu để đặt trạm gốc là rất khó khăn. Đặc biệt là trong tình trạng có nhiều nhà khai thác cùng hoạt động.
Những nhược điểm trên dẫn đến giá thành của giải pháp này rất lớn. Đối với những nhà khai thác mạng đã phát triển đến mức độ bão hòa (số thuê bao không thể tăng vọt) thì những tốn kém trong việc triển khai hệ thống như thế sẽ làm giảm tính cạnh tranh, vì cước phí trên một đơn vị bit thông tin tăng cao.
Gần đây, người ta đưa ra một giải pháp để khắc phục nhược điểm của giải pháp trên mà vẫn duy trì được chất lượng dịch vụ, cũng như thời gian sử dụng pin cho các máy đầu cuối di động [1]. Đó là giải pháp sử dụng các trạm chuyển tiếp (Hình 2(b)). Đối với giải pháp sử dụng các trạm chuyển tiếp thì không cần thay đổi kích thước cell, không cần quy hoạch lại mạng cũng như cung cấp thêm các đường truyền dẫn E1 như đã nói ở trên. Hơn thế nữa, các trạm chuyển tiếp có thể được thiết kế để hoạt động ở dải tần không cần cấp phép và các trạm chuyển tiếp không cần thiết phải đặt ở những vị trí quá cao. Những ưu điểm này làm cho chi phí của giải pháp dùng các trạm chuyển tiếp giảm đi đáng kể và thời gian triển khai cũng được rút ngắn.
Mặc dù các trạm chuyển tiếp đã được sử dụng phổ biến trong các hệ thống truyền dẫn vi ba cũng như các hệ thống truyền dẫn số khác. Tuy nhiên, các trạm chuyển tiếp này chỉ có chức năng thu nhận tín hiệu từ phía phát sau đó hoặc là khuếch đại tín hiệu rồi chuyển tiếp đến phía thu hoặc là giải mã rồi mới chuyển tiếp thông tin đến đích. Những trạm chuyển tiếp như vậy hoàn toàn phù hợp với môi trường truyền dẫn vô tuyến trong tầm nhìn thẳng (LOS) để tăng cự ly truyền dẫn của các tuyến truyền dẫn vô tuyến số. Nhưng, trong trường hợp của các mạng thông tin vô tuyến di động mà ở đó truyền dẫn đa đường (multipath) là phổ biến thì chức năng của trạm chuyển tiếp như vậy sẽ không lợi dụng được đặc tính quảng bá của sóng vô tuyến cũng như lợi dụng đặc tính thay đổi của kênh fading. Vì thế, khái niệm trạm chuyển tiếp thông minh được đưa ra để áp dụng cho các mạng vô tuyến di động tế bào.
II. Trạm chuyển tiếp thông minh
Trạm chuyển tiếp thông minh không chỉ là giải mã và chuyển tiếp (hoặc khuếch đại và chuyển tiếp) thông tin nhận được từ phía phát như các trạm chuyển tiếp thông thường, mà nó còn có chức năng xử lý tín hiệu thu được trước khi chuyển đến đích. Mục đích chính của việc xử lý tín hiệu tại các trạm chuyển tiếp thông minh này là để lợi dụng tối đa đặc tính quảng bá của sóng vô tuyến và sự thay đổi của kênh truyền dẫn fading.
Giao thức truyền dẫn thông tin trong mạng thông tin di động tế bào có sử dụng trạm chuyển tiếp thông minh được minh họa ở Hình 3. Thông tin của các máy đầu cuối được phát quảng bá không chỉ đến trạm chuyển tiếp mà còn đến với trạm thu phát gốc. Khi nhận được tín hiệu thu này, trạm thu phát gốc sẽ không giải mã tín hiệu ngay mà chờ tín hiệu đến từ trạm chuyển tiếp. Đối với trạm chuyển tiếp, ngoài việc giải mã thông tin của các máy đầu cuối, trạm chuyển tiếp thông minh sẽ thực hiện xử lý tín hiệu để sao cho thông tin của mỗi người dùng đến đích bằng nhiều đường truyền dẫn khác nhau. Khi trạm gốc nhận được tín hiệu từ trạm chuyển tiếp, lúc này trạm gốc sẽ kết hợp tín hiệu thu trực tiếp từ các máy đầu cuối trước đó và tín hiệu thu từ trạm chuyển tiếp để thực hiện giải mã tín hiệu gốc.
Giao thức truyền dẫn ở trên cho thấy, thông tin của mỗi người sử dụng sẽ được giải mã dựa trên ba đường truyền dẫn độc lập với nhau. Hay nói khác đi, độ lợi phân tập không gian đã tăng từ 1 (đối với các trạm chuyển tiếp thông thường) lên 3 (đối với trạm chuyển tiếp thông minh). Như đã chứng minh, nếu độ lợi phân tập không gian tăng lên thì chất lượng tín hiệu sẽ được cải thiện [5].
III. Xử lý tín hiệu trong trạm chuyển tiếp thông minh của hệ thống sử dụng mã turbo
Mã turbo được lựa chọn để nghiên cứu trong các hệ thống dùng trạm chuyển tiếp thông minh vì gần đây loại mã này được đề xuất sử dụng trong hầu hết các chuẩn di động mới như W-CDMA (HSPA), cdma2000 1x EV-DO (Rev A, B, C) hay Mobile WiMAX nhằm nâng cao chất lượng truyền dẫn tín hiệu trong môi trường vô tuyến hở. Hơn thế nữa, cấu trúc cơ bản của mã turbo gồm hai bộ tạo mã thành phần, [4], do đó mã turbo rất phù hợp đối với giao thức truyền dẫn như đã trình bày ở trên. Xử lý tín hiệu trong hệ thống có sử dụng trạm chuyển tiếp thông minh kết hợp với mã turbo được mô tả trên Hình 4:
Thông tin của mỗi máy đầu cuối trước hết được đưa qua các bộ mã hóa quy hồi hệ thống (RSC) để tạo ra các bit hệ thống và bit chẵn lẻ. Sau đó, những bit đã được mã hóa này được ánh xạ lên các điểm tín hiệu trên chùm sao tín hiệu (Hình 1) trước khi chúng được phát đến trạm thu phát gốc và trạm chuyển tiếp thông minh (Hình 4). Tại trạm chuyển tiếp thông minh, để khôi phục lại thông tin người dùng, các bộ giải mã Viterbi dựa trên cấu trúc lưới của bộ tạo mã quy hồi được sử dụng. Sau đó thông tin của các người dùng được ghép xen kẽ vào nhau trước khi đưa đến bộ ghép xen (interleaver) và bộ mã hóa quy hồi hệ thống để tạo ra luồng bit chẵn lẻ thứ 2 cho các người dùng. Cuối cùng thông tin của các người dùng sẽ được chuyển tiếp đến trạm gốc.
Việc ghép xen kẽ các bit thông tin của người dùng ở trạm chuyển tiếp thông minh nhằm mục đích tạo sự liên kết giữa thông tin của các người dùng với nhau để tăng độ lợi phân tập không gian [2]. Ví dụ, để giải mã thông tin của người dùng thứ nhất (MS1 Hình 3), trạm thu phát gốc phải sử dụng tín hiệu thu từ chính máy đầu cuối này và tín hiệu thu từ trạm chuyển tiếp. Tuy nhiên, tín hiệu thu từ trạm chuyển tiếp không chỉ mang thông tin của máy đầu cuối MS1 mà còn mang thông tin của máy đầu cuối MS2. Do đó, thông tin của máy đầu cuối MS2 cũng phải được trạm gốc sử dụng để phục vụ việc giải mã thông tin của máy đầu cuối MS1. Điều này hoàn toàn tương tự cho việc giải mã tín hiệu của máy đầu cuối MS2. Như vậy, thông qua việc xử lý tín hiệu ở trạm chuyển tiếp thông minh, tín hiệu của mỗi máy đầu cuối được giải mã dựa trên ba đường truyền dẫn độc lập nhau. Nếu một trong ba đường truyền dẫn bị fading thì các đường còn lại có thể có mức tín hiệu thu đủ tốt để trạm gốc có thể khôi phục lại thông tin gốc. Do đó chất lượng truyền dẫn của hệ thống vô tuyến dùng trạm chuyển tiếp thông minh được cải thiện đáng kể.
IV. Kết luận
Hình 5 cho thấy, so với các hệ thống không dùng trạm chuyển tiếp thì trạm chuyển tiếp thông minh có thể tiết kiệm được đến 9 dB công suất phát. Trong đó, 4 dB đạt được nhờ sử dụng tính chất quảng bá của sóng vô tuyến [1], 5 dB có được do sử dụng các kỹ thuật xử lý tín hiệu ở trạm chuyển tiếp thông minh như ghép xen kẽ và phát lặp [2][3]. Mức tiết kiệm công suất đó sẽ giúp cho việc triển khai các dịch vụ truyền dẫn không dây băng rộng trong tương lại được thuận tiện và khả thi.
(T.T)
Dù chưa chính thức được chuẩn hóa nhưng trong chuẩn di động thế hệ 4G, tốc độ truyền dẫn dữ liệu tại giao diện vô tuyến được mong đợi là gấp 10 lần so với tốc độ của hệ thống 3G hiện nay. Để đáp ứng được yêu cầu về tốc độ truyền dẫn cao thì một trong những giải pháp là dùng các chùm tín hiệu điều chế tốc độ cao [6]. Ví dụ các chùm tín hiệu điều chế 16-QAM đã được đề xuất sử dụng trong các tiêu chuẩn 3G ở cả 3GPP và 3GPP2, trong chuẩn di động WiMAX, chùm tín hiệu điều chế 64-QAM cũng được sử dụng với mục đích cung cấp dịch vụ vô tuyến băng rộng. Tuy nhiên, nếu duy trì mức công suất phát ngang bằng với công suất sử dụng ở những chùm tín hiệu mật độ thấp thì khoảng cách cực tiểu giữa hai điểm tín hiệu trên chùm tín hiệu sẽ giảm (Hình 1). Điều đó đồng nghĩa với việc tỷ lệ lỗi ký hiệu sẽ tăng lên hay nói khác đi để đảm bảo chất lượng dịch vụ (BER), các máy phát phải tăng công suất. Việc tăng công suất trong mạng thông tin di động sẽ khó khăn đối với máy đầu cuối vô tuyến vì các máy đầu cuối vô tuyến như: cell phone, PDA sử dụng pin làm nguồn nuôi, công suất phát tăng sẽ rút ngắn thời gian sử dụng pin của những thiết bị này [1].
Mặt khác, các dải tần số như 850, 900, 1800, 1900 MHz hoặc thậm chí dải tần 2 GHz đã được các mạng di động GSM, WCDMA, cdma2000 sử dụng. Do đó, chắc chắn rằng dải tần số phân bố cho 4G sẽ nằm bên trên dải 2 GHz của hệ thống 3G hiện nay [1]. Suy hao truyền dẫn trong điều kiện che chắn ở dải tần này là rất lớn. Đây cũng là một lý do dẫn đến việc tăng công suất phát nếu như vùng phủ sóng vẫn phải được duy trì.
Hình 1. Sự thay đổi khoảng cách cực tiểu của các chùm tín hiệu điều chế mật độ cao
Để giải quyết hai khó khăn trên thông thường người ta dùng giải pháp thu nhỏ kích thước cell và tăng mật độ các trạm thu phát gốc như ở Hình 2(a). Tuy vậy, nhược điểm của giải pháp này là [1]:
- Phải cung cấp thêm các đường truyền dẫn (thường là các luồng E1) từ các trạm BTS mới đến trung tâm điều khiển trạm gốc BSC. Nhưng, trên thực tế không phải lúc nào các luồng truyền dẫn E1 cũng sẵn có đối với tất cả các nhà khai thác mạng di động.
- Cần phải tổ chức lại mạng lưới như: ấn định lại các tần số vô tuyến cho từng trạm thu phát gốc và dịch chuyển các điểm đặt trạm thu phát gốc.
- Cung cấp thêm các tần số vô tuyến vì nhiều trạm thu phát gốc mới đã được đưa vào. Điều này có thể chưa khó khăn đối với một nhà khai thác mạng chưa phát triển. Nhưng, đối với những nhà khai thác mạng đã sử dụng gần hết các tần số cấp phép thì việc thêm tần số vô tuyến mới là rất khó khăn.
- Phải thuê và xây dựng các trạm thu phát mới cũng gây nên những tốn kém nhất định trong việc triển khai hệ thống vì trong một khu vực việc chọn được một địa điểm tối ưu để đặt trạm gốc là rất khó khăn. Đặc biệt là trong tình trạng có nhiều nhà khai thác cùng hoạt động.
Những nhược điểm trên dẫn đến giá thành của giải pháp này rất lớn. Đối với những nhà khai thác mạng đã phát triển đến mức độ bão hòa (số thuê bao không thể tăng vọt) thì những tốn kém trong việc triển khai hệ thống như thế sẽ làm giảm tính cạnh tranh, vì cước phí trên một đơn vị bit thông tin tăng cao.
Gần đây, người ta đưa ra một giải pháp để khắc phục nhược điểm của giải pháp trên mà vẫn duy trì được chất lượng dịch vụ, cũng như thời gian sử dụng pin cho các máy đầu cuối di động [1]. Đó là giải pháp sử dụng các trạm chuyển tiếp (Hình 2(b)). Đối với giải pháp sử dụng các trạm chuyển tiếp thì không cần thay đổi kích thước cell, không cần quy hoạch lại mạng cũng như cung cấp thêm các đường truyền dẫn E1 như đã nói ở trên. Hơn thế nữa, các trạm chuyển tiếp có thể được thiết kế để hoạt động ở dải tần không cần cấp phép và các trạm chuyển tiếp không cần thiết phải đặt ở những vị trí quá cao. Những ưu điểm này làm cho chi phí của giải pháp dùng các trạm chuyển tiếp giảm đi đáng kể và thời gian triển khai cũng được rút ngắn.
Hình 2. (a) Giải pháp thu nhỏ cell và dùng nhiều BTS; (b): Giải pháp dùng trạm chuyển tiếp
Mặc dù các trạm chuyển tiếp đã được sử dụng phổ biến trong các hệ thống truyền dẫn vi ba cũng như các hệ thống truyền dẫn số khác. Tuy nhiên, các trạm chuyển tiếp này chỉ có chức năng thu nhận tín hiệu từ phía phát sau đó hoặc là khuếch đại tín hiệu rồi chuyển tiếp đến phía thu hoặc là giải mã rồi mới chuyển tiếp thông tin đến đích. Những trạm chuyển tiếp như vậy hoàn toàn phù hợp với môi trường truyền dẫn vô tuyến trong tầm nhìn thẳng (LOS) để tăng cự ly truyền dẫn của các tuyến truyền dẫn vô tuyến số. Nhưng, trong trường hợp của các mạng thông tin vô tuyến di động mà ở đó truyền dẫn đa đường (multipath) là phổ biến thì chức năng của trạm chuyển tiếp như vậy sẽ không lợi dụng được đặc tính quảng bá của sóng vô tuyến cũng như lợi dụng đặc tính thay đổi của kênh fading. Vì thế, khái niệm trạm chuyển tiếp thông minh được đưa ra để áp dụng cho các mạng vô tuyến di động tế bào.
II. Trạm chuyển tiếp thông minh
Trạm chuyển tiếp thông minh không chỉ là giải mã và chuyển tiếp (hoặc khuếch đại và chuyển tiếp) thông tin nhận được từ phía phát như các trạm chuyển tiếp thông thường, mà nó còn có chức năng xử lý tín hiệu thu được trước khi chuyển đến đích. Mục đích chính của việc xử lý tín hiệu tại các trạm chuyển tiếp thông minh này là để lợi dụng tối đa đặc tính quảng bá của sóng vô tuyến và sự thay đổi của kênh truyền dẫn fading.
Hình 3. Mô hình truyền dẫn dùng trạm chuyển tiếp thông minh
Giao thức truyền dẫn thông tin trong mạng thông tin di động tế bào có sử dụng trạm chuyển tiếp thông minh được minh họa ở Hình 3. Thông tin của các máy đầu cuối được phát quảng bá không chỉ đến trạm chuyển tiếp mà còn đến với trạm thu phát gốc. Khi nhận được tín hiệu thu này, trạm thu phát gốc sẽ không giải mã tín hiệu ngay mà chờ tín hiệu đến từ trạm chuyển tiếp. Đối với trạm chuyển tiếp, ngoài việc giải mã thông tin của các máy đầu cuối, trạm chuyển tiếp thông minh sẽ thực hiện xử lý tín hiệu để sao cho thông tin của mỗi người dùng đến đích bằng nhiều đường truyền dẫn khác nhau. Khi trạm gốc nhận được tín hiệu từ trạm chuyển tiếp, lúc này trạm gốc sẽ kết hợp tín hiệu thu trực tiếp từ các máy đầu cuối trước đó và tín hiệu thu từ trạm chuyển tiếp để thực hiện giải mã tín hiệu gốc.
Giao thức truyền dẫn ở trên cho thấy, thông tin của mỗi người sử dụng sẽ được giải mã dựa trên ba đường truyền dẫn độc lập với nhau. Hay nói khác đi, độ lợi phân tập không gian đã tăng từ 1 (đối với các trạm chuyển tiếp thông thường) lên 3 (đối với trạm chuyển tiếp thông minh). Như đã chứng minh, nếu độ lợi phân tập không gian tăng lên thì chất lượng tín hiệu sẽ được cải thiện [5].
III. Xử lý tín hiệu trong trạm chuyển tiếp thông minh của hệ thống sử dụng mã turbo
Mã turbo được lựa chọn để nghiên cứu trong các hệ thống dùng trạm chuyển tiếp thông minh vì gần đây loại mã này được đề xuất sử dụng trong hầu hết các chuẩn di động mới như W-CDMA (HSPA), cdma2000 1x EV-DO (Rev A, B, C) hay Mobile WiMAX nhằm nâng cao chất lượng truyền dẫn tín hiệu trong môi trường vô tuyến hở. Hơn thế nữa, cấu trúc cơ bản của mã turbo gồm hai bộ tạo mã thành phần, [4], do đó mã turbo rất phù hợp đối với giao thức truyền dẫn như đã trình bày ở trên. Xử lý tín hiệu trong hệ thống có sử dụng trạm chuyển tiếp thông minh kết hợp với mã turbo được mô tả trên Hình 4:
Hình 4. Trạm chuyển tiếp thông minh trong hệ thống sử dụng mã Turbo
Thông tin của mỗi máy đầu cuối trước hết được đưa qua các bộ mã hóa quy hồi hệ thống (RSC) để tạo ra các bit hệ thống và bit chẵn lẻ. Sau đó, những bit đã được mã hóa này được ánh xạ lên các điểm tín hiệu trên chùm sao tín hiệu (Hình 1) trước khi chúng được phát đến trạm thu phát gốc và trạm chuyển tiếp thông minh (Hình 4). Tại trạm chuyển tiếp thông minh, để khôi phục lại thông tin người dùng, các bộ giải mã Viterbi dựa trên cấu trúc lưới của bộ tạo mã quy hồi được sử dụng. Sau đó thông tin của các người dùng được ghép xen kẽ vào nhau trước khi đưa đến bộ ghép xen (interleaver) và bộ mã hóa quy hồi hệ thống để tạo ra luồng bit chẵn lẻ thứ 2 cho các người dùng. Cuối cùng thông tin của các người dùng sẽ được chuyển tiếp đến trạm gốc.
Việc ghép xen kẽ các bit thông tin của người dùng ở trạm chuyển tiếp thông minh nhằm mục đích tạo sự liên kết giữa thông tin của các người dùng với nhau để tăng độ lợi phân tập không gian [2]. Ví dụ, để giải mã thông tin của người dùng thứ nhất (MS1 Hình 3), trạm thu phát gốc phải sử dụng tín hiệu thu từ chính máy đầu cuối này và tín hiệu thu từ trạm chuyển tiếp. Tuy nhiên, tín hiệu thu từ trạm chuyển tiếp không chỉ mang thông tin của máy đầu cuối MS1 mà còn mang thông tin của máy đầu cuối MS2. Do đó, thông tin của máy đầu cuối MS2 cũng phải được trạm gốc sử dụng để phục vụ việc giải mã thông tin của máy đầu cuối MS1. Điều này hoàn toàn tương tự cho việc giải mã tín hiệu của máy đầu cuối MS2. Như vậy, thông qua việc xử lý tín hiệu ở trạm chuyển tiếp thông minh, tín hiệu của mỗi máy đầu cuối được giải mã dựa trên ba đường truyền dẫn độc lập nhau. Nếu một trong ba đường truyền dẫn bị fading thì các đường còn lại có thể có mức tín hiệu thu đủ tốt để trạm gốc có thể khôi phục lại thông tin gốc. Do đó chất lượng truyền dẫn của hệ thống vô tuyến dùng trạm chuyển tiếp thông minh được cải thiện đáng kể.
IV. Kết luận
Hình 5 cho thấy, so với các hệ thống không dùng trạm chuyển tiếp thì trạm chuyển tiếp thông minh có thể tiết kiệm được đến 9 dB công suất phát. Trong đó, 4 dB đạt được nhờ sử dụng tính chất quảng bá của sóng vô tuyến [1], 5 dB có được do sử dụng các kỹ thuật xử lý tín hiệu ở trạm chuyển tiếp thông minh như ghép xen kẽ và phát lặp [2][3]. Mức tiết kiệm công suất đó sẽ giúp cho việc triển khai các dịch vụ truyền dẫn không dây băng rộng trong tương lại được thuận tiện và khả thi.
Hình 5. Hiệu năng của hệ thống vô tuyến có sử dụng trạm chuyển tiếp thông minh
(T.T)






Trang trước
